
HOÀI TƯỜNG PHONG
Tên thật: Nguyễn Ngọc Sương, sinh năm 1945 tại Mỹ Lương, Cái Bè, Tiền Giang. Các bút danh khác Đào Đức Linh, Linh Thảo.
Hoài Tường Phong bắt đầu làm thơ từ năm 1966, lúc còn là học sinh Trường trung học Tống Phước Hiệp, Vĩnh Long. Anh đã xuất bản tập thơ riêng “QUA CẦU” năm 1997 (tái bản năm 1998). Ngoài ra anh còn có thơ và truyện ngắn in chung với nhiều tác giả khác trong khu vực.
Hiện nay anh sinh sống cùng gia đình tại số 94A/17 đường Trần Quang Diệu, Thành phố Cần Thơ. Mười năm trở lại đây anh ít làm thơ, xa những sinh hoạt văn nghệ để lo cho cuộc sống của gia đình. Bài thơ “Trăng Nghẹn”
là những cảm xúc chân thật của anh trong những lần về thăm quê, nhớ lại thời mình thơ ấu.
TIỂU ANH
Tên thật: Nguyễn Thanh Anh; bút danh: Tiểu Anh
Sinh năm: 1984; Nguyên quán: Sài Gòn; Cử nhân Văn chương Anh
Hiện sống và làm việc tại TP Hồ Chí Minh
TRẦN HỮU DŨNG
Bìa cuối tập thơ Trần Hữu Dũng viết: “ Gửi tặng các bạn thân: Vũ Trọng Quang, Nguyễn Đình Bổn, Phan ngọc Thường Đoan, Nguyễn thị Hậu, Nguyễn Hoà, Nhật Chiêu…Giải tỏa niềm ám ảnh tai nạn tinh thần vào đầu tháng 3 năm 2008 “. Thì ra, với thi sĩ Trần Hữu Dũng thơ đã thành dược liệu. Thú vị nhất là anh đã trực nhận: “Gần 10 ngày chay tịnh nín khẩu/ Tôi mới biết mình không có căn tu”. Và anh “Thú thật nếu có kiếp sau/ Chắc hẳn tôi đầu thai/ Làm người đẹp/ Dụ dỗ bầy trai tân/ Mới sướng !!!” (Ám ảnh). Mới hay những kẻ ác tâm không cô lập được người thơ. Cái tai-nạn-tinh-thần đã hóa giải bằng con chữ: “4. Viết giữ khoảng lặng trắng giữa các từ. Đón nhận mùi hương tinh khiết toát ra từ nó và nghe gió ru bất cứ lúc nào” (Bốn điều răn cho chính mình).
VÕ QUÊ
ĐINH THỊ THU VÂN
Nữ sĩ như áng mây mỏng manh mang trên vai gầy guộc cây thập tự giá tình yêu bay qua bầu trời nhân gian đầy nắng gió…
Áng mây mỏng manh bay qua khoảng trời con gái thuở: "Tay em năm ngón dẫu mềm – vẫn e chưa đủ dịu êm khi cầm"… chợt lung linh bảy sắc cầu vồng làm bao cánh chim phiêu bạc giang hồ bàng hoàng, ngơ ngác…
Trong một ngày ngoái lại, nữ sĩ chợt nhận ra: “ không ai đợi tôi về sau cánh cửa– không nồng nàn không ấm áp bao dung – tôi như sống nửa đời đêm giấu lửa –một nửa dường đang khuất phía mông lung…” Có thể sẽ không còn ai,nhưng nhất định sẽ còn THƠ đứng đợi như một người tình muôn năm chung thuỷ…
(Trần Ngọc Tuấn – SCL)
VĨNH BIỆT NHÀ THƠ TÔ NHƯỢC CHÂU
Nhà thơ Tô Nhược Châu, hội viên Hội Văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu, Bến Tre, đã qua đời vì bệnh nan y lúc 8g45 ngày 23-8-2009, thọ 66 tuổi.
Nhà thơ Tô Nhược Châu tên thật là Nguyễn Công Quận, sinh năm 1944 ở xã Giao Long, huyện Châu Thành, Bến Tre. Ông còn có bút danh khác là Nguyễn Thoại Ca. Thơ của ông được đăng nhiều trên tạp chí Kiến Thức Ngày Nay, báo Văn Nghệ TP.HCM, tạp chí Văn Nghệ của các tỉnh ĐBSCL.
Bài thơ Đã Chết Nghìn Thu Tiếng Nguyệt Cầm từng được bạn đọc tạp chí Kiến Thức Ngày Nay bình chọn là bài thơ hay nhất năm 1990. Ông đã in một tập thơ riêng mang tên bài thơ này và một số tuyển tập thơ chung do các Hội Văn học nghệ thuật ở ĐBSCL xuất bản.
NGUYỄN ANH VŨ
Trẻ tuổi, đẹp trai, lắm tài hoa: kiến trúc sư, họa sĩ, nhà văn, nhà thơ . . . Ông trời sao ưu ái cho Nguyễn Anh Vũ quá nhiều thứ để . . . nhiều cô gái khổ vì anh.
NGUYỄN TRUNG HIẾU
Đạo diễn - Nghệ sĩ Ưu tú Nguyễn Trung Hiếu được biết đến như một "ông vua" phim tài liệu ở đồng bằng sông Cửu Long. Chưa có con số thống kê chính xác, nhưng ít ra cũng gần 100 tập phim được phát sóng trên các kênh truyền hình trong và ngoài nước. Song, với người nghệ sĩ tài hoa nầy còn ẩn chứa những điều chưa nói được bằng ống kính nên anh đã nói bằng thơ . . .
LÊ ĐẠT
Lê Đạt tên thật là Đào Công Đạt, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1929, quê ở Á Lữ, Bắc Giang. Ông tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm vào những năm 50 rồi vắng bóng trên văn đàn suốt 30 năm.
Đã xuất bản:
- Bài Thơ Trên Ghế Đá (chung với Vĩnh Mai, 1958),
- 36 Bài Thơ Tình (chung với Dương Tường, 1990),
- Thơ Lê Đạt Sao Mai (chung với Sao Mai, 1991),
- Tập thơ Bóng Chữ (1994) và tập truyện ngắn Hèn Đại Nhân (1994).
- Trường ca Bác (thơ), Ngó lời (thơ, 1997)
- Mi là người bình thường (tập truyện ngắn, 2007)
- U75 Từ tình (thơ và đoản ngôn, 2007).
Lê Đạt chủ trương dường lối thơ "tạo sinh" - thơ phải dựa vào "ý tại ngôn ngoại", phải cô đúc, đa tầng, đa nghĩa, và đa ngã (phỏng theo nhà phê bình Thụy Khê). Thơ ông giàu nhạc điệu; nhiều sáng tạo, cách tân; phảng phất nhiều điển cố văn học và lịch sử; chất chứa vô vàn những lối "chơi chữ" tạo hình hóm hỉnh, đòi hỏi ở độc giả một trình độ thưởng thức cao.
Năm 2007, cùng với Trần Dần, Phùng Quán, Hoàng Cầm, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.
CHIÊU ANH NGUYỄN
Tác giả chỉ post thơ trên blog của mình,một sở thích không có gì đáng phàn nàn.Thơ thường chọn thể cổ điển lục bát hoặc thất ngôn.Thơ nữ tính thỉnh thoảng ‘gầm gừ’ một chút rồi lại trở về với cỏ hoa sương khói.
Thỉnh thoảng có một vài câu lóe sáng trong cả một bài dài.Thế là quí rồi.Danh tiếng như… các nhà thơ đã thành danh cũng chỉ cầu có được dăm ba câu thiên hạ nhớ đến nói chi một người làm thơ vì yêu thơ.
VÕ ĐẮC DANH
ĐỖ TRUNG QUÂN
Một hôm áo trắng về lại phố
Tháng chín mây mùa thu ghé thãm
Có chàng chùi kiếng bâng khuâng hỏi
Có gặp cô nàng nãm ngoái không ?
(MÂY MÙA THU)
NGUYỄN NHẬT ÁNH
Có những trang văn xuôi như thơ và ngược lại.Đấy là trường hợp Nguyễn Nhật Ánh.Vì thế,tôi chẳng bao giờ đòi phân biệt anh là nhà thơ hay nhà văn.Nhiều chương trong truyện dài “mắt biếc” và nhiều truyện khác của anh đẹp như thơ.Nhiều bài thơ của anh nếu theo thể loại thơ xuôi cũng đẹp như văn.Nguyễn Nhật Ánh nắm vững chi tiết của truyện dài và sự tối giản của thi ca-cái tứ thơ luôn phải có,phải cô đọng không được dài dòng.
Thơ Nguyễn Nhật Ánh nếu bạn thích- thật đơn giản-xin mời đọc .
Đỗ Trung Quân
CHIM TRẮNG
Từ mái tóc rễ...dừa đen cứng, trắng dần rồi vàng đậm như ...lá dừa khô, Chim Trắng có nụ cười rộng miệng làm cặp mắt của anh đã nghiêng lại càng xếch. Cứ ngỡ con người này tếu lắm, hài lắm, hóa ra lại rất ít biểu hiện. Ấy cũng là một nét mâu thuẫn đáng chú ý. Với một bề ngoài giản dị, khiêm nhường nhưng thơ anh lại dằn vặt, tìm kiếm, trầm tịch và không phải không có sự cầu kỳ...Lại là một mâu thuẫn đáng chú ý nữa. Cuộc sống anh đầy ắp kỷ niệm về cuộc đời, về đồng bào, về quê hương nhưng thơ anh lại không hay nói cách khác ít cụ thể mà luôn muốn vươn lên cái khái quát, vẻ hung vĩ của tình cảm và tư tưởng.
VŨ ÂN THY (Báo SGGP)
ĐÀO PHONG LAN
Thôi hãy yêu như cây lá trên đồng
Vẫy vào ngày mùa thơm náo nức
Còn em
Xin được làm chiếc cúc
Nép khiêm nhường trên ngực áo anh...
BÙI CHÍ VINH
Trong một xã hội hỗn mang, thi sĩ có cách tự vệ của mình. Ngày xưa, Lý Bạch từng bắt Cao Lực Sĩ cởi giày, sau đó làm thơ tặng Dương Quý Phi chọc tức Đường Minh Hoàng trước khi đi giang hồ rồi trầm mình ôm trăng tự sát. Tôi không chọn cách chết mà chọn cách sống. Tôi gào thét nỗi khổ của người nghèo, người bị áp bức cho đến tai thượng đế rồi có chết cũng sướng. Khi làm "Thơ đời", tôi không nghĩ đến tôi.
BÙI CHÍ VINH
TRỊNH HOÀI GIANG
Đó là kịch tích cao độ của những bài thơ cô nén, giàu hình ảnh vả ý tượng, chụp bắt được các biến động của lịch sử đất nước thời hậu chiến. Thi sĩ họ Trịnh đã tôi luyện cho mình một thi pháp riêng: tạo tương quan xung khắc giữa chi tiết cụ thể và tư duy khái quát, nâng người đọc lên tầng cao của cảm xúc nghệ thuật và ý thức đạo lý.
CHÂN PHƯƠNG
TRẦN HUYỀN TRÂN
Với Trần Huyền Trân làm bài thơ “Độc Hành Ca” cảm khái sau một cuộc rượu của những người tìm ở văn chương một lối thoát trong đời sống bị bủa vây vì sinh kế, vì thời thế. Hình như, có sự thúc đẩy để tâm sự òa ra thành ngôn ngữ thi ca. Không thể nào chịu đựng được nếu không cầm bút. Nổ bùng xúc cảm, vỡ òa đáy tâm tư, thơ như tiếng kêu thất thanh vọng trong lồng ngực. Thơ phải trào, ùa ra theo mênh mông cảm hứng…
N.M.T
TAGORE
Rabindranath Tagore, hay Rabindranath Thakur, (6 tháng 5 năm 1861 – 7 tháng 8 năm 1941) là một nhà thơ Bengal, triết gia Bà La Môn và nhà dân tộc chủ nghĩa được trao Giải Nobel Văn học năm 1913, trở thành người châu Á đầu tiên đoạt giải Nobel.Mặc dù thơ chiếm ưu thế trong sự nghiệp của Tagore với hơn 1.000 bài (50 tập thơ). Bắt đầu từ việc năm 14 tuổi ông được đăng bài thơ "Tặng hội đền tín đồ Ấn Độ giáo" ông cũng để lại nhiều tiểu thuyết (12 bộ dài và vừa), luận văn, hàng trăm truyện ngắn, kí, kịch (42 vở), 2000 tranh vẽ,... Không kém phần nổi tiếng trong số các tác phẩm của ông là hơn 2.000 bài hát, ngày nay được gọi là Rabindra Sangeet và được xem là kho tàng văn hoá Bengal, ở cả Tây Bengal thuộc Ấn Độ lẫn Bangladesh, liên quan sâu sắc tới mọi lĩnh vực.
( Theo Wikipedia)
LÊ CHÍ
Nhà thơ Lê Chí, tên thật là Lê Chí Trường, sinh năm 1940 tại Cà Mau, nguyên là phó chủ tịch hội Văn học - Nghệ thuật Minh Hải, giám đốc NXB Mũi Cà Mau, ủy viên BCH Hội Nhà văn Việt Nam. Hiện nay là chi hội trưởng chi hội nhà văn Việt Nam tại đồng bằng sông Cửu Long, Tổng biên tập website vannghesongcuulong.org
QUANG DŨNG
Bình sinh Quang Dũng rất thích nói chuyện với anh em về Lương Sơn Bạc... tôi thường đọc cho anh em nghe thơ Quang Dũng và anh em trong đơn vị rất thích. Nhưng cũng vì vậy mà hai lần tôi bị phê bình: Lần thứ nhất, tôi đọc bài "Lính râu ria" anh em vỗ tay như pháo vì nó đúng thực tế quá vậy nhưng tôi được góp ý là không nên đọc loại thơ "lính lê dương" như thế. Lần thứ hai, tôi ngâm bài "Tây Tiến" ở đại hội mừng công Liên khu III. Sau đó tôi được góp ý là bài đó rất "tiểu tư sản" không nên phổ biến. Gần năm mươi năm nay tôi vẫn thấy nhiều người thích hai bài ấy. Tôi cũng thế!
Lê Vạn Thắng
(Quang Dũng, người và thơ, 1990)

|
|